Kiểm toán nhà nước
State audit office of VietNam
<p align=justify><strong> Đặt vấn đề <br></strong>Phát hiện ra các sai sót gian lận trọng yếu trên báo cáo tài chính (BCTC) từ lâu luôn là vấn đề được các kiểm toán viên độc lập (KTV) quan tâm. Quy trình phân tích được trình bày khá sớm trong các chuẩn mực kiểm toán từ năm 1973 trong các chuẩn mực kế toán Hoa Kỳ. Trong chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA) và chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) hiện nay, việc áp dụng quy trình phân tích được yêu cầu ở giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán và trong giai đoạn hoàn thành kiểm toán. Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, nó được xem như một loại thử nghiệm cơ bản được dùng hỗ trợ cho các thử nghiệm chi tiết.</p>
<p align=justify> Hồ sơ kiểm toán phản ánh toàn bộ quá trình, diễn biến của cuộc kiểm toán. Kết quả của mỗi nội dung công việc trong mỗi giai đoạn của quy trình kiểm toán đều thể hiện tại tài liệu, giấy tờ làm việc của kiểm toán viên (KTV), tổ kiểm toán, đoàn kiểm toán được lưu trữ trong hồ sơ kiểm toán. Hệ thống mẫu biểu hồ sơ kiểm toán cần phải được chuẩn hoá và phản ánh đầy đủ diễn biến của hoạt động kiểm toán, dễ ghi chép, đảm bảo tính đồng bộ, nhất quán theo từng lĩnh vực kiểm toán và thuận lợi cho quá trình tổng hợp kết quả kiểm toán, lập các báo cáo kiểm toán tổng hợp của KTNN. Hồ sơ kiểm toán là tài liệu, bằng chứng bằng văn bản để minh chứng cho các kết quả kiểm toán, đồng thời là cơ sở để kiểm soát chất lượng kiểm toán. </p>
<p align=justify> <strong> 1. Bối cảnh kinh tế và các gói kích cầu của Việt Nam </strong><br>Cuối năm 2008 và đầu năm 2009, trước tác động sâu rộng của cuộc khủng hoảng tài chính xuất phát từ Mỹ và lan rộng suy thoái kinh tế ra toàn cầu, Chính phủ Việt Nam đã phản ứng nhanh chóng trước tình hình đó và triển khai thực hiện chuyển hướng chính sách từ kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô sang thực hiện các giải pháp ngăn chặn và khắc phục suy thoái kinh tế với mục tiêu hàng đầu là ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, bền vững, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội...; hàng loạt các chính sách cụ thể đã được Chính phủ ban hành bao gồm hỗ trợ lãi suất tín dụng, miễn giảm thuế, khuyến khích xuất khẩu, kích cầu đầu tư và tiêu dùng, các biện pháp an sinh xã hội, tạo việc làm, giảm nghèo, bảo đảm ổn định đời sống nhân dân...bằng các nhóm giải pháp như: (1) Kích cầu đầu tư và tiêu dùng; (2) Thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu; (3)Thực hiện các chính sách tài chính, tiền tệ linh hoạt; (4) Thực hiện các chính sách an sinh xã hội để phát triển bền vững. Chính phủ đã triển khai quyết liệt các biện pháp kích thích kinh tế với quy mô của các gói kích thích lên tới 8 tỷ USD (tương đương 10 GDP), trong đó:</p>
<p align=justify> Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu, nó vừa mang lại cơ hội, vừa mang lại thách thức đối với các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.Trong xu thế toàn cầu hóa, phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp được mở rộng ra ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia, tính chất hoạt động ngày càng đa dạng phức tạp, mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt. Hiện nay, ở Việt Nam, mô hình tổ chức doanh nghiệp nhà nước thành các tổng công ty đã thể hiện nhiều hạn chế. Trong khi đó, mô hình công ty mẹ - công ty con là mô hình tiên tiến được nhiều nước trên thế giới thực hiện. Việc chuyển đổi các tổng công ty sang mô hình công ty mẹ - công ty con là phù hợp với xu thế chung của thế giới. </p>
<p align=justify> Quản lý tài chính là một bộ phận, một khâu của quản lý kinh tế xã hội và là khâu quản lý mang tính tổng hợp. Quản lý tài chính được coi là hợp lý, có hiệu quả nếu nó tạo ra được một cơ chế quản lý thích hợp, có tác động tích cực tới các quá trình kinh tế xã hội theo các phương hướng phát triển đã được hoạch định. Việc quản lý, sử dụng nguồn tài chính ở các đơn vị sự nghiệp có liên quan trực tiếp đến hiệu quả kinh tế xã hội do đó phải có sự quản lý, giám sát, kiểm tra nhằm hạn chế, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong khai thác và sử dụng nguồn lực tài chính đồng thời nâng cao hiệu quả việc sử dụng các nguồn tài chính. </p>