Kiểm toán nhà nước
State audit office of VietNam
<p align=justify><strong> Đặt vấn đề <br></strong>Phát hiện ra các sai sót gian lận trọng yếu trên báo cáo tài chính (BCTC) từ lâu luôn là vấn đề được các kiểm toán viên độc lập (KTV) quan tâm. Quy trình phân tích được trình bày khá sớm trong các chuẩn mực kiểm toán từ năm 1973 trong các chuẩn mực kế toán Hoa Kỳ. Trong chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA) và chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) hiện nay, việc áp dụng quy trình phân tích được yêu cầu ở giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán và trong giai đoạn hoàn thành kiểm toán. Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, nó được xem như một loại thử nghiệm cơ bản được dùng hỗ trợ cho các thử nghiệm chi tiết.</p>
<p align=justify> Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, đã có những khái niệm khác nhau về kiểm toán nội bộ (KTNB). Mỗi quan niệm phản ánh một giai đoạn, theo đó là một mức độ phát triển tương ứng của lĩnh vực này. Tuy nhiên, đến nay chỉ có hai định nghĩa KTNB chính thức được qui định trong “Các chuẩn mực nghề nghiệp KTNB” và “Tuyên bố về trách nhiệm của kiểm toán viên nội bộ” do Viện Kiểm toán viên nội bộ quốc tế (IIA) ban hành, lần đầu vào năm 1978, và lần sau - gần đây nhất vào năm 1999. </p>
<p align=justify> Ngân sách bộ, ngành là bộ phận quan trọng của ngân sách nhà nước, chi ngân sách bộ, ngành chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm và có ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế- xã hội của toàn bộ quốc gia. Chính vì thế để hoàn thành nhiệm vụ là công cụ kiểm tra tài chính công quan trọng của Nhà Nước thì Kiểm toán Nhà nước phải không ngừng nâng cao chất lượng kiểm toán ngân sách bộ, ngành. Những năm gần đây tuy phạm vi, qui mô kiểm toán ngân sách bộ, ngành ngày càng được mở rộng, chất lượng kiểm toán ngày càng được nâng lên nhưng công tác kiểm toán đã bộc lộ nhiều hạn chế cần phải đổi mới, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của thực tiễn. </p>
<p align=justify> Kiểm toán nội bộ (KTNB) là một chức năng thẩm định độc lập được thiết lập bên trong một đơn vị để xem xét và đánh giá các hoạt động của đơn vị với tư cách là một sự trợ giúp đối với nhà quản trị đơn vị. KTNB được hiểu là một bộ phận được đặt ra bên trong một đơn vị để thực hiện chức năng kiểm tra, đánh giá và xác minh độc lập thông tin về các hoạt động diễn ra bên trong đơn vị đó.</p>
<p align=justify> Theo chuẩn mực kế toán số 01 (VAS 01) định nghĩa: “Doanh thu là giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu”.</p>
Copy link thành công